Tứ Diệu Đế by Mind Map: Tứ Diệu Đế
5.0 stars - 1 reviews

Tứ Diệu Đế

Định nghĩa

Tứ: bốn

Diệu: hay, đẹp, quí báu

Đế: sự chắc chắn, rõ ràng, đúng đắn

Tứ diệu đế: là bốn sự thật chắc chắn, quí báu, hoàn toàn nhất, không có một giáo lý ngoại đạo nào có thể sánh kị

Tóm tắt

Khổ đế: Trình bày tất cả những nỗi đau trên thế gian này mà mỗi chúng sinh đều phải chịu

Tập đế: Trình bày nguyên nhân của bể khổ trần gian, là lý do vì đâu có những nỗi khổi ấy

Diệt đế: Trình bày rõ ràng hoàn cảnh quả vị an lành, tốt đẹp mà chúng sanh sẽ đạt đến khi đã diệt trừ được những nỗi khổ và những nguyên nhân của đau khổ

Đạo đế: Ðạo đế là những phương pháp đúng đắn, chắc thật để diệt trừ đau khổ

Khổ đế

Định nghĩa

Khổ: khó chịu đựng, khó kham nhẫn, những gì đau đớn.

Khổ đế: Sự thật đúng đắn về sự khổ.

Phân loại

Ba khổ, Khổ khổ: Khổ vì nhiều cái không thích chồng lên nhau, liên tiếp., Hoại khổ: Khổ vì sự hoại diệt, Hành khổ: Khổ vì bị chi phối bởi những ý tưởng, dục vọng, tiềm thức, và luôn luôn chịu mệnh lệnh của chúng

Tám khổ, Sanh khổ, Già khổ, Bệnh khổ, Chết khổ, Chia ly người mình yêu thích, Mong cầu không thành hiện thực, Gặp người mình căm ghét, Ngũ ấm xí thạnh khổ: khổ vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Mục đính

Hiểu rõ để tìm phương cách giải quyết

Không tham cầu để khỏi bị cuốn theo hoàn cảnh

Gắng sức tu thoát khổ

Tập đế

Định nghĩa

Tập: chứa nhóm, dồn thêm mỗi ngày

Tập đế là nguyên nhân của nỗi khổ tích trữ từ lâu đời.

Nguyên nhân gây đau khổ: 10 thứ

Tham

Sân: nóng giận

Si: si mê, mờ ám

Mạn: Nâng mình lên, hạ người xuống. Có 7 thứ, Mạn: hơn người ít mà nghĩ mình hơn nhiều, Ngã mạn: ỷ mình hay giỏi mà lấn lướt người, Quá mạn: mình bằng người mà cho là hơn người, người hơn mình mà cho là bằng, Mạn quá mạn: người hơn mình nhiều mà cho mình hơn người, Tăng thượng mạn: chưa chứng thánh quả mà cho mình đã chứng, Ty liệt mạn: mình thua người nhiều mà nói rằng thua ít, Tà mạn: người tu về tà đạo, được chút ít thần thông, hoặc hiểu biết được đôi chút việc quá khứ, vị lai, rồi khinh lướt người

Nghi: nghi ngờ làm cản trở sự tiến bộ. Có 3 loại., Tự nghi: nghi mình, Nghi pháp: nghi phương pháp của mình, Nghi nhơn: nghi người

Thân kiến: Chấp thân này là thật, ta là thật

Biên kiến: chấp một bên, có thành kiến. Có 2 loại, Thường kiến: Chết rồi ta vẫn tồn tại mãi, Đoạn kiến: Chết là hết.

Kiến thủ: chấp sự hiểu sai của mình, Vì không ý thức được, Vì tự ái, cứng đầu

Giới cấm thủ: làm theo lời răn cấm vô lý, mê muội

Tà kiến: là lối tin không chơn chánh, trái sự thật

Thuộc tính của các nguyên nhân gây đau khổ

Kiết sử: sinh khởi nhanh hay chậm, Lợi sử, Dễ sanh khởi mà cũng dễ từ bỏ, Gồm, Thân kiến, Biên kiến, Kiến thủ, Giới cấm thủ, Tà kiến, Độn sử, Là những phiền não chậm chạp, ngấm ngầm, khó dứt, Gồm, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi

Kiến hoặc: mê lầm do vọng chấp, phân biệt của ý thức sinh ra

Tư hoặc: Từ vô thỉ, khó diệt trừ, Tham, Sân, Si, Mạn

Diệt đế

Định nghĩa

Diệt: tiêu diệt, diệt trừ

Diệt đế: thuyết minh về hoàn cảnh tốt đẹp sau khi diệt hết phiền não

Các bậc để diệt trừ mê lầm

Kiến đạo: Diệt trừ mê lầm khi thấy chánh đạo. Mê lầm này ở mức độ sự cạn cợt, tuyên truyền của sách vở, thầy dạy.

Tu đạo: Diệt trừ mê lầm, phiền não ở mức độ sâu kín, đâm sâu trong tâm thức, thói quen, sự chấp ngã, nhục dục, tham, giận, kiêu căn. Cần công phu tu trì mới đạt được.

Các tầng bậc tu chứng

1.Tứ gia hạnh, Rời xa tà kiến, Xoay tâm ý, tư tưởng dần vào chân lý: vô thường, vô ngã, bất tịnh, tứ đế, để nhận chân được các tánh cách vô thường, vô ngã, bất tịnh, không thật v.v...của cuộc đời, Tứ gia hạnh gồm, Noản vị, Giai đoạn "hơi nóng" để sau này có thể "đốt cháy" phiền não, Đảnh vị, Trên giai đoạn noản vị, đứng trên chóp núi mê lầm., Chưa thoát ra được mê lầm., Nhẫn vị, Biết nhịn, luôn luôn yên lặng sáng suốt trước sự quấy phá., Bậc này đã gần sáng tỏ, Thế hệ nhất vị, Bậc cao nhất trong đời, Phá hết các kiến nhỏ nhít sau cùng là giải thoát

2.Tu đà hoàn, Ở quả vị này, ý thức đã sáng suốt, không còn bị mê lầm nữa, song thất thức còn chấp ngã, nên phải trở lại trong cõi Dục, nhiều nhất là bảy phen sanh tử nữa, mới gọt sạch các kiết sử phiền não thầm kín, nằm nép trong tâm thức, và chứng quả A La Hán.

3.Tư đà hàm, Một lần ở cõi Dục để tu hành dứt sạch mê lầm tiến đến A la hán., Sau khi chứng quả Thánh đàu tiên rồi, phải tu nữa để đoạn trừ tư hoặc, mới chứng được bậc nầy. Tuy nhiên, ở cõi Dục có chín phẩm tư hoặc, mà vị này chỉ mới đoạn có 6 phẩm, còn 3 phẩm nữa chưa đoạn. Nghĩa là mới đoạn sáu phẩm thô thiển bên ngoài, còn ba phẩm sâu kín bên trong chưa đoạn. Vì thế, phải trở lại một phen để đoạn cho hết ba phần sau, mới bước lên Thánh quả thứ ba là A na hàm được.

4.A Na Hàm, Ðến địa vị A na hàm nầy những mê lầm ấy không còn nữa, nên không bị tái sanh ở đấy nữa, trừ trường hợp phát nguyện trở lại cõi nầy để độ sanh., Vẫn còn mang trong mình những mê lầm vi tế cu sanh của hai cõi Sắc và Vô sắc.

5.A La Hán, Ứng cúng: Vị nầy có phước đức hoàn toàn, trí huệ hơn cả, đáng làm nơi phước điền cho chúng sinh cúng dường., Phá ác: Vị nầy đã phá tan những nhiền não tội ác, không còn bị chúng khuấy phá sai sử trói vuộv nữa., Vô sanh: Vị nầy không còn bọ xoay vần trong sanh tử luân hồi nữa, vì đã phá trừ được phiền não là yếu tố của sanh tử luân hồi., Ðây là quả vị cao nhất, trong Thanh Văn Thừa

Diệt đế là niết bàn

Niết là chẳng; Bàn là dệt. Còn phiền não thì còn dệt ra sanh tử, không phiền não thì không còn dệt ra sanh tử. Vậy Niết Bàn là không dệt ra sanh tử luân hồi.

Chữ Bàn cũng có nghĩa là không ngăn ngại. Niết Bàn còn có nhiêu fnghĩa khác nữa, song tóm lại không ngoài ba nghĩa: Bất sanh, giải thoát, tịch diệt.

Đạo đế

Định nghĩa: là phần quan trọng được Phật dạy để thành Đạo quả

Gồm 37 phẩm, chia ra làm 7 loại

Tứ niệm xứ, Định nghĩa, Tứ: bốn, Niệm: Hằng nghĩ, nhớ, Xứ: nơi chốn, Tứ niệm xứ: bốn điều cần để tâm nhớ nghĩ đến, Bao gồm, Quán thân bất tịnh, Định nghĩa, Quán nghĩa là tập trung tư tưởng để quan sát cho thấu đáo. Bất tịnh nghĩa là không sạch, Quán thân bất tịnh nghĩa là tập trung tư tưởng để quan sát một cách tường tận về sự dơ bẩn của cái thân ta., Phật dạy "Cửu tưởng quán", Trướng tưởng: Ngày đầu ở gần bên cạnh thay chết, quán thây sình trướng to lên., Thanh ứ tưởng: Ngày thứ hai quán thây bị gió nắng xanh xám., Hoại tưởng: Ngày thứ ba quán thây bị rã nát., Huyết đồ tưởng: Ngày thứ tư, quán thây máu thịt rơi rớt lai láng., Nồng lãnh tưởng: Ngày thứ năm, quán thây chết da thịt rục rã., Hám tưởng: Ngày thứ sáu, quán chim thú đến mổ ăn thây., Tán tưởng: Ngày thứ bảy, quán sau khi chim thú ăn, gân xương, đầu mình, tay chân chia tan nát vỡ., Cốt tưởng: Ngày thứ tám, quán huyết thịt đã hết, chỉ còn bộ xương trắng bừa bãi., Thiêu tưởng: Ngày thứ chín, quán bộ xương trắng đốt cháy thành tro đất., Quán tâm vô thường, Định nghĩa, Tâm vô thường, nghĩa là cái tướng của tự tâm chúng ta luôn luôn đổi thay, không thường, Tránh các lối chấp, Thần ngã, Là lối chấp của " Số luận sư ". Họ cho rằng mỗi chúng ta có thần ngã tự tại, trong sạch, nhưng vì phân biệt, nên nhận thấy có vũ trụ vạn hữu, rồi sanh lòng ưa muốn, bỏ mất thần ngã tự tại trong sạch ấy., Linh hồn, Cho rằng duy có xác thịt chết, chứ cái linh hồn trong trường hợp nào cũng vẫn nhận biết mình, biết người, cũng thấy nghe như xác thịt, không bao giờ chết..., Quán pháp vô ngã, Định nghĩa, Nghĩa chữ Pháp rộng lớn mênh mông, chỉ cho tất cả mọi sự thật trên vũ trụ, chẳng những các vật hữu hình, cho đến các vật vô hình tưởng tượng như lông rùa, sừng thỏ, cũng gọi là Pháp CẢ., Ngã có nghĩa là chủ lễ, là riêng có tự tướng của mình. Người ta thường chấp các pháp đều có tự tướng của người, vật có tự tướng của vật, thế giới có tự tướng của quốc gia, xã hội có tự tướng của xã hội., Mục đích, Ðã chấp có tự tướng của mình, tất nhiên thấy có tự tướng của người khác. Ðối với tự tướng của một vật, hễ về mình thì không về người khác, còn về người khác thì không về mình. Do đó, sinh ra tâm niệm nhân, ngã, bỉ thử, quí trpngj, khinh rẽ, tranh chấp, đấu tranh trong xã hội., Ví như trong giấc chiêm bao, vì nhân duyên chiêm bao hiện ra thấy có cảnh nầy cảnh khác. Ðương khi ấy, người chiêm bao, cũng lầm tưởng là thật có, đến khi thức dậy, mới nhận ra đó là cảnh giả dối trong chiêm bao., Pháp vô ngã là lối tu giải thoát rốt ráo. Nếu ai ai cũng biết tu hạnh vô ngã một đôi phần thì đâu có sự ích kỷ hại nhân, thế giới hòa bình., Quán thọ thị khổ, Định nghĩa, Thọ là chịu, nhận lãnh, Thọ thi khổ nghĩa là có nhận lãnh là có khổ., Mục đích, Phép quán nầy mục đích đối trị bệnh tham là một bệnh trầm trọng nhất trong các bệnh phiền não, đã ăn sâu gốc rễ trong lòng chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp., Ðối với cảnh ta thấy không có gì đáng ưa, cũng không có gì đáng khổ sở. Như thế mới được an nhiên tự tại thoát vòng khổ đau.

Tứ chánh cần, Định nghĩa, Tứ Chánh cần là bốn phép siêng năng Tinh tấn hợp với chánh đạo, Bao gồm, Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh, Tinh tấn dứt trừ những điều ác phát sinh, Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh, Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh

Tứ như ý túc, Định nghĩa, Tứ Như ý túc là bốn phép thiền định, Bốn phương tiện giúp chúng ta thành tựu các tam ma địa Samadhi: (chánh định), Bao gồm, Dục như ý túc, Dục là mong muốn. Mong muốn một cách thiết tha, mong muốn cho kỳ được, mong muốn cho đến khi mãn nguyện mới thôi., Có thứ mong muốn thỏa mãn những thú tánh, những tham vọng, đó là mong muốn tội lỗi, nên diệt trừ. Có thứ mong muốn hướng thượng, trong lành, như mong muón sống một cuộc đời đẹp đẽ, thanh cao, mong muốn được giải thoát ra ngoài biển khổ sanh tử, đó là thứ mong muốn hợp lý, đáng khuyến khích. Người Phật tử mong muốn được thành đạt pháp tiền định mình đang tu, để tiến lên chứng các Thánh quả, Ðây cũng là một sự cải chính rất hùng hồn để đánh tan quan niệm sai lầm cho rằng: người Phật tử phải diệt dục, mà diệt dục nghĩa là diệt tất cả, diệt luôn cả sự sống., Tinh tấn như ý túc, Tinh tấn là dũng mãnh, chuyên nhất vào pháp thiền định mình đang tu., Tinh tấn là nghị lực tu tập mạnh mẽ, thường hằng, không bao giờ gián đoạn., Nhất tâm như ý túc, Nhất tâm là tâm chuyên nhất vào định cảnh, không bào giừo tán loạn., Quán như ý túc, Quán nghĩa là dùng trí tuệ sáng suốt quán sát pháp mình đang tu. Quán trí ấy do định mà phát sanh, trí ấy là tịnh trí., Vì tịnh cho nên nó có thể như thật thông đạt thật nghĩa (chân lý) của các pháp (vũ trụ).

Ngũ căn, Ngũ căn là năm căn. Căn đây tức là căn bản, là gốc rễ, là nguồn gốc để tất cả các thiện pháp xuất phát., Gồm, Tín, Là lòng tin mạnh mẽ vững chắc, Lòng tin này không giống như lòng tin mù quáng, vô điều kiện, bất chấp lý trí., Lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí, là kết qủa của sự suy luận sáng suốt, của sự quan sát kỹ càng, Gồm, Tin Phật, Tin Pháp, Tin Tăng, Tấn, Tấn căn là sự dũng mãnh tinh tấn trên bước đường tu tập không bao giờ thối lui, Gồm, Bị giáp tinh tấn: "Mang áo giáp" để xông pha vào trận địa phiền não., Gia hạnh tinh tấn: Không bao giờ dừng nghĩ trên con đường đến giải thoát., Vô hỷ túc tinh tấn: Vô hỷ túc tinh tấn nghĩa là không vui sướng tự mãn, cho là vừa đủ khi mới thu được một ít thắng lợi trên đường tu hành., Niệm, Là ghi nhớ, Những điều cần ghi nhớ, Niệm thí: Tu bố thí, Niệm giới: Trì giới, Niệm thiên: là nhớ tu các niệm thiền định, Định, Ðịnh là lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp, để suy đạt thật nghĩa của nó., Có 3 bậc, An trụ định: Ðêt tâm an trụ vào định cảnh, không cho tán động, do đó phiến não được tiêu trừ., Dẫn phát định: Do đoạn sạch phiền não nên được phát sanh sáu món thần thông là các công đức thù thắng., Thành sở tác sự định: Do đã phát khởi được các công đức, thần thông, nên thường làm lợi ích cho tất cả chúng sanh; cứu độ chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng được Niết Bàn., Huệ, Huệ căn: Huệ là trí huệ sáng suốt, thâm nhập được chân tướng của vạn pháp., Gồm 3 thứ, Vô phân biệt gia hạnh huệ: Quán trí nầy không còn thấy có phân biệt, nhưng còn có gia hạnh, nghĩa là còn phải dụng công tu hành, để thành tựu hoàn toàn vô phân biệt trí. Vì thế, nên gọi là " vô phân biệt gia hạnh huệ"., Vô phân biệt huệ: Trí huệ nầy không có sự phân biệt, mà không cần phải gia hạnh vì đã thuần phục. Do không phân biệt nên không có mê vọng. Nhờ trí huệ này, người tu hành được tự tại thể chứng nhân như., Vô phân biệt hậu đắc huệ: Hay hậu đắc trí, nghĩa là trí huệ có được sau khi đã chứng được chân như. Trí huệ này hoàn toàn sáng suốt, tỏ ngộ được thật nghĩa của các pháp. Chư Phật nhờ hậu đắc trí nầy mà thi tác vô lượng công đức, để cứu độ chúng sanh.

Ngũ lực, Ngũ lực tức là năm năng lực vĩ đại, năm thần lực của Ngũ căn, Gồm 5 thành phần, Tín lực: tức là thần lực của đức tin, hay sức mạnh lớn lao, vi diệu do tín căn phát sinh., Tấn lực: tức thần lực của đức tinh tấn, hay sức mạnh bất thối chuyển, kiên cố, có thể sang bằng mọi trở lực, sức mạnh này do tấn căn phát sinh., Niệm lực: tức là thần lực của sự ghi nhớ, hay sức mạnh lớn lao bền chắc của niệm căn., Ðịnh lực: tức thần lực của sự tập trung tư tưởng hay sức mạnh vĩ đại của định căn., Huệ lực: tức thần lực của trí huệ hay sức mạnh vô biên của huệ căn.

Thất Bồ đề phần, Định nghĩa, Bồ đề do phiên âm chữ Phạn Boddhi mà ra. Người Trung hoa dịch là Giác đạo, hay đạo quả gíac ngộ., Phần là từng phần, từng loại., hất Bồ đề phần là bảy pháp tu tập tuần tự hướng đến đạo quả vô thường Bồ đề, hay bảy pháp giúp người tu hành thành tựu đạo quả Ðại giác., Gồm, Trạch pháp, Định nghĩa, Trạch: lựa chọn, Pháp: pháp môn, Là phương pháp tu hành. Trạch pháp là dùng trí huệ để lựa chọn pháp lành để tu, pháp dữ để tránh., Muốn thẳng tiến trên đường giác ngộ, giải thoát, không phải nghe ai bảo gì tin nấy, không phải tự bảo một cách bừa bãi: "đạo nào cũng tốt cả"., Cần sáng suốt để phòng sự đánh lộn sòng của các ngoại đạo, sự xuyên tạc xảo quyệt để làm mất lòng tin sáng suốt., Tinh tấn, Nhưng một khi đã lựa chọn được pháp môn chân chính để tu rồi, thì phải tinh tấn, nghĩa là luôn luôn dũng tiến trên bước đường tu tập, không quản ngại gian lao khó nhọc, không khiếp sợ; không thối chuyển, không tự mãn, tự cao mà bỏ dở mục đích chưa đạt được., Hỷ, Nghĩa là hoan hỷ, Nhờ tinh tấn tu hành, nên đoạn trừ được dần phiền não thành tựu vô lượng công đức, do đó, sanh tâm hoan hỷ và phấn chí tu hành., Khinh an, Khinh là nhẹ nhàng. An là an ổn., Nhờ sự tinh tiến tu tập nên thân tâm được thanh tịnh; do đó người tu hành cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái, khinh an, như đã trút được gánh nặng dục vọng, mê mờ., Niệm, Nghĩa là thường ghi nhớ chánh pháp để thực hành, Định, Có sự tập trung lắng đọng, Xả, Nghĩa là bỏ ra ngoài không vướng bận, Kết quả, Tất cả các pháp ác đều được tiêu trừ, Tất cả pháp lành càng ngày càng tăng trưởng., Vì thường tu thiện, đoạn ác, nên luôn luôn được an lạc, không bị đau khổ., Sẽ chứng thành Phật quả.

Bát chánh đạo phần, Định nghĩa, Là con tám con đường ngay thẳng hay tám phương tiện nhiệm màu đến đời sống chí diệu., Gồm, Chánh kiến, Định nghĩa, Chánh: ngay thẳng, Kiến: là thấy nhận biết, hánh kiến hay Chánh tri kiến là thấy, nghe, hay, biết một cách ngay thẳng, công minh, đúng với sự thật khách quan, Người có chánh kiến thấy như thế nào thì nhận đúng như thế ấy, không lấy trắng làm đen, xấu làm tốt, dở làm hay, hay trái lại. Sự nhận xét sự vật của người ấy không bị tập quán, thành kiến, dục vọng ngăn che hay làm sai lạc., Người có chánh kiến biết phân biệt cái nào giả, cái nào thật. Và khi đã biết cảnh giả, vật dối, thì mắt không chăm, tâm không chú; còn khi rõ biết cảnh vật thật, lời lẽ chân, thì chuyên tâm vào sự lý chân thật làm cho đèn huệ sáng ngời, tiền trần không phương che ám được., Chánh tư duy, Định nghĩa, Tư duy là suy nghĩ, nghiệm xét; nó thuộc về ý thức, Chánh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh, tư tưởng đúng với lẽ phải., Người tu theo phép Chánh tư duy, thường xét nghĩ đạo lý cao siêu, suy tìm thể tánh nhiệm mầu, biết xét những hành vi lỗi lầm, những ý nghĩ xấu xa để sám hố, Biết suy nghĩ về ba món vô lậu học: Giới, Ðịnh, Huệ, để tu giải thoát;, Biết suy xét vô minh và nguyên nhân đau khổ, là nguồn gốc của tội ác, và tìm phương pháp đúng đắn để tu hành hầu giải thoát cho mình và cho người., Chánh ngữ, Định nghĩa, Ngữ: lời nói, Chánh ngữ là lời nói chân thật, công bình, ngay thẳng và hợp lý., Người tu theo chánh ngữ, không bao giờ nói sai, không thiên vị, thấy dở nói hay, không xuyên tạc, nghe một đường nói một ngả., Người theo chánh ngữ rất thận trọng lời nói, Chánh nghiệp, Định nghĩa, Nghiệp hay Karma nghĩa là hành động tạo tác., Chánh nghiệp là hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lý, có lợi ích co người lẫn vật., Người theo đúng "chánh nghiệp" là người luôn luôn thận trọng , giữ gìn mọi hành động của mình, để khỏi làm tổn hại đến quyền lợi, nghền ghiệp, địa vị, danh giá, hạnh phúc, tánh mạng của người khác., Người theo đúng chánh nghiệp bao giờ cũng tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của mình, luôn luôn hành động có lợi ích cho mọi người, mọi vật; và nếu cần, có thể hy sinh quyền lời hay tánh mạng mình để giải thoát nỗi đau khổ cho người khác., Ngoài ra cũng gọi là chánh nghiệp, khi dùng trí huệ để quán tưởng những pháp chân chính, hoặc ngồi Thiền, niệm Phật , hoặc trì tụng kinh hành, để giữ gìn thân, khẩu, ý ba nghiệp cho thanh tịnh., Chánh mạng, Định nghĩa, Mạng: sự sống, đời sống, hánh mạng là sanh sống một cách chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện, trong sạch của mình., Người theo đúng Chánh mạng sống một cuộc đời ngay thật, không gian tham, không làm giàu trên mồ hôi, nước mắt của người khác, không làm cho người và vật phải đau khổ vì nghề nghiệp của mình., Người theo đúng Chánh mạng sống một cuộc đời có ý nghĩa lợi mình, lợi người, xứng với bát cơm mình ăn không, manh áo mình mặc chứ không ăn không ngồi rồi, sống bám vào người khác., Người theo Chánh mạng sống đúng Chánh pháp, không mê tín dị đoan, và biết thân tứ đại vốn vô thường, nên lấy tịnh giới làm thể, lấy trí huệ làm mạng, bỏ niệm vọng cầu, an vui với chánh pháp., Chánh tinh tấn, Định nghĩa, Chánh tinh tấn là chuyên cần, siêng năng làm việc chánh nghĩa, lợi lạc cho mình cũng như cho người và vật., Người theo đúng Chánh tinh tấn, trước tiên, bao giờ cũng hăng hái sửa mình, cương quyết bài trừ những điều ác, quyết tâm phát triển mọi hạnh lành., Người theo đúng Chánh tinh tấn, dũng mãnh tiến lên trên đường đi đến giải thoát, cho đến lúc nào đạt được mục đích cao cả, cùng tột ấy mới thôi., Chánh niệm, Định nghĩa, Niệm: ghi nhớ, Chánh niệm là ghi nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình cho người, những đạo lý chân chính quý trọng cao siêu., Gồm, Chánh ức niệm, Là nghĩ nhớ đến các điều lỗi lầm để thành tâm sám hối, và nghĩ nhớ đến Tứ trọng ân: ân cha mẹ, ân tổ quốc, ân chúng sinh và ân Tam Bảo để lo báo đền., Chánh quán niệm, Là dùng tâm từ bi xét nghĩ cuộc đời là khổ não, tật bệnh, mê mờ mà chúng sinh đang mắc phải, để mở rộng lòng thương yêu và quyết ra tay cứu độ., Chánh định, Định nghĩa, Chánh định là tập trung tư tưởng vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình và người., Quan sát những vấn đề, Quán thân bất tịnh, Là quán tưởng thân không thanh tịnh, để trừ tham dục, sai ái (xem lại đoạn: "quán thân bất tịnh" trong bài Tứ niệm xứ)., Quán từ bi, Là quán tưởng tất cả chúng sinh đều là một chân tâm, bình đẳng không khác, để đoạn trừ thù hận, và mở rộng lòng thương yêu để cứu độ chúng sinh., Quán nhân duyên, Là quán tưởng tất cả pháp hữu hình như muôn vật, vô hình như tâm niệm đều là giả hợp, duyên nhau mà có, chứ không có một cách chân thật, không trường tồn, để đoạn trừ ngu si, pháp chấp., Quán giới phân biệt, Là phân biệt và quán tưởng sự giả hợp của 18 giới: 6 căn, 6 trần, 6 thức để thấy không thật có "ngã, pháp" ngõ hầu diêth trừ ngã chấp, pháp chấp., Quán hơi thở, Là quán tưởng bằng cách chuyên chú đếm hơi thở ra vào, để đổi trị sự tán loạn của tâm thức.

Create your own awesome maps

Even on the go

with our free apps for iPhone, iPad and Android

Get Started

Already have an account?
Sign In