1. Ví dụ: giữa tiếng Nga và tiếng Việt có sự khác nhau ở cơ chế tương hợp ngữ pháp của các đơn vị thuộc cấp độ hình thái: tính từ tiếng Nga có phạm trù ngữ pháp giống, số, cách, trong khi tính từ ở tiếng Việt thì không. Nét khác biệt này thực tế không cần yếu đối với người Nga khi học tiếng Việt. Họ có thể dễ dàng lựa chọ những hình thái tính từ Việt ngữ tương ứng với các hình thái tính từ Nga ngữ. Hoặc trong tiếng Anh động từ có thời, thể, thức trong khi động từ tiếng Việt không có. Sự phân biệt 4 kiểu giống và khác nhau trên nhằm khẳng định không nên đồng nhất hoàn toàn sự giống nhau và khác nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ với sự thuận lợi và khó khăn của người học trong quá trình học nhưng cũng không nên phủ nhận mối liên hệ giữa chúng, nhất là mối liên hệ giữa những khác biệt cần yếu và độ khó của việc học một ngoại ngữ.
1.1. Sự khác nhau không cần yếu: Đây là những sự khác nhau không dẫn đến hiện tượng giao thoa ngôn ngữ bất lợi cho người học ngoại ngữ.
2. Ví dụ: Tiếng Việt và tiếng Khơ me có nét giống nhau cơ bản về trật tự những yếu tố trong cụm danh từ (danh+tính) và những đơn vị thành phần câu trong kết cấu câu đơn (chủ-vị-bổ). Đây là những nét giống nhau cần yếu trong đối chiếu tiếng Việt-Khơ me.Vì ít ra, nó đưa lại cho chúng ta chỉ dẫn cụ thể: đối với người Khơ me học tiếng Việt, vấn đề trật tự các yêu cầu trong cụm danh từ và trong kết cấu câu đơn không phải là đối tượng giảng dạy chú ý.
3. VD: đối chiếu thành ngữ, tục ngữ,…
4. + Nhiều người có xu hướng cho rằng khi học ngoại ngữ, chỗ nào giống với tiếng mẹ đẻ thì dễ học, còn chỗ nào khác với tiếng mẹ đẻ thì khó học. Thật ra, mối quan hệ giữa sự giống nhau và khác nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ với những thuận lợi và khó khăn đối với việc học không hề đơn giản. Giống nhau và khác nhau đều là vấn đề thuộc về đối tượng. Tồn tại khách quan trong mối quan hệ giữa hai ngôn ngữ nhất định. Còn dễ hay khó là những khái niệm tâm lý tồn tại trong óc của người học-chủ thể. Đó là những phạm trù tuy có mối liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng lại không tương ứng theo kiểu một đối một với nhau.
5. Sự giống nhau không cần yếu: Đây là trường hợp phổ niệm ngôn ngữ. Chẳng hạn ngôn ngữ nào cũng có nguyên âm, danh từ, động từ… Như vậy, những nét giống nhau này không phải là đối tượng chú ý của việc nghiên cứu
6. Ảnh hưởng có thể tiêu cực, tức là gây trở ngại cho quá trình học ngôn ngữ đích, thường dẫn đến việc sử dụng sai ngôn ngữ đích, trường hợp này được gọi là chuyển di tiêu cực (negative transfer, interference).
6.1. Ví dụ: hai đơn vị từ vựng ở ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ đích giống nhau về cách đọc và cách viết nhưng nghĩa của chúng lại không hoàn toàn giống nhau. Nếu người học không ý thức được sự khác biệt này thì có thể mắc lỗi dùng sai từ.
7. 5. Các giá trị ứng dụng của ngôn ngữ học đối chiếu vào lĩnh vực dạy học ngoại ngữ
7.1. nhằm hướng tới những giống nhau và khác nhau cần yếu giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh gây ra những giao thoa ngôn ngữ nhất định trong học tập ngoại ngữ
7.1.1. 1. Những nét giống nhau cần yếu: trật tự từ, thành phần câu (A-V),…
7.1.2. 2. Những nét giống nhau không cần yếu: ngôn ngữ nào cũng có nguyên âm( phổ niệm)….
7.1.2.1. 4. Những nét khác nhau không cần yếu: động từ có thời, thể thức (A) trong khi động từ tiếng Việt không có
7.1.3. 3. Những nét khác nhau cần yếu: từ và thanh điệu ( V ), từ và trọng âm ( A )
7.1.4. 5. Những nét tương ứng cần yếu: một hình thức giống nhau những nội dụng ở 2 ngôn ngữ khác nhau; hình thức khác nhau nhưng nội dung biểu đạt giống nhau; ý nghĩa ngữ pháp giống nhau nhưng hình thức và phương thức, phương tiện biểu hiện không tương ứng.
7.1.5. 6. Những nét tương ứng không cần yếu: chỉ có giá trị về lý luận ngôn ngữ
7.1.6. 7. Những nét phi tương ứng cần yếu: ở ngôn ngữ đối chiếu nào đó, tồn tại một phạm trù ngôn ngữ A nhưng ở ngôn ngữ khác lại không.
7.1.7. 8. Những nét phi tương ứng không cần yếu: tiếng mẹ để tồn tại một phạm trù ngôn ngữ nào đó không có trong ngoại ngữ đang học.
7.2. Ngôn ngữ học đối chiếu góp phần khắc phục tình trạng “ dĩ Âu vi trung” của ngôn ngữ học đại cương hiện nay.
8. 6. Thế nào là chuyển di ngôn ngữ?
8.1. là yếu tố chủ đạo trong quá trình hình thành ngôn ngữ trung gian bởi vì người học cần sử dụng những tài nguyên ngôn ngữ có sẵn để tạo lập ngôn ngữ trung gian, và những nguồn tài nguyên đó đều xuất phát từ ngôn ngữ mẹ đẻ.
8.1.1. Có hai loại ảnh hưởng
8.1.1.1. Ảnh hưởng có thể tích cực, tức là làm cho việc học trở nên dễ dàng hơn. Trường hợp này được gọi là chuyển di tích cực (positive transfer). Chuyển di tích cực có thể xảy ra khi cả ngôn ngữ nguồn (tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ thứ nhất) và ngôn ngữ đích (ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ) có chung hình thức.
8.1.1.1.1. Ví dụ: nếu một đơn vị từ vựng nào đó trong ngôn ngữ đích khá giống với một đơn vị từ vựng trong tiếng mẹ đẻ, người học sẽ chuyển nghĩa của đơn vị từ vựng đó trong tiếng mẹ đẻ sang ngôn ngữ đích, và điều này có thể giúp cho quá trình học ngôn ngữ mới nhanh hơn
9. 2. Những đóng góp của ngôn ngữ học đối chiếu đối với ngôn ngữ học đại cương:
9.1. Do nhiệm vụ xây dựng bộ máy các khái niệm, phạm trù làm công cụ nghiên cứu các ngôn ngữ cụ thể, một công trình ngôn ngữ học đại cương cần dựa trên cứ liệu của càng nhiều ngôn ngữ càng tốt, sao cho một khái niệm, một phạm trù mà nó xây dựng nên có thể bao quát được tất cả hay hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới.
9.2. Trong tình hình ngôn ngữ học đại cương hiện nay vốn dựa chủ yếu trên cứ liệu của các ngôn ngữ Ấn Âu, ngôn ngữ mẹ đẻ của những nhà ngôn ngữ học lớn của nhân loại, đó vẫn còn là nhiệm vụ trong tương lai.
9.3. Ngôn ngữ học đối chiếu góp phần thực hiện nhiệm vụ đó. Qua đối chiếu người nghiên cứu có thể thấy rằng các ngôn ngữ của nhân loại đa dạng như thế nào.
9.4. Càng thấy được sự đa dạng đó nhu cầu điều chỉnh xu hướng “dĩ Âu vi trung” càng trở nên cấp thiết. Và cũng chính kết quả phân tích đối chiếu sẽ cho ta cử liệu thực tiễn để có những điều chỉnh đúng hướng.
10. 9. Khác và giống nhau ở ngoại ngữ và mẹ đẻ ở chỗ dễ hay khó khi học?
10.1. VD: VD: Hai từ tiếng Việt "anh họi" và "em họ" tương ứng với 1 từ tiếng Anh "cousin". Trong khi sự khác biệt đó có thể gây chút khó khăn cho người Anh khi học hai từ "anh họ" và "em họ" trong tiếng Việt thì ngược lại, người Việt không gặp chút rắc rối nào khi học từ "cousin" trong tiếng Anh. (Đây chỉ nói về khía cạnh từ vựng, chứ không phải ngữ âm).
10.2. + Thế nhưng những khác nhau giữa hai ngôn ngữ không phải khi nào cũng gây khó khăn cho quá trình học. Cùng một nét khác biệt giữa các ngôn ngữ, nó có thể gây khó khăn đối với người học ngôn ngữ này, nhưng lại không thành vấn đề gì đối với người nói ngôn ngữ khác.
11. 8. Khác và giống nhau ở chỗ đối chiếu ngôn ngữ để khắc phục hiện tượng giao thoa
11.1. Sự giống nhau cần yếu:
11.1.1. Đây là những nét giống nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ có thể giúp người giảng những chỉ dẫn cụ thể trong quá trình truyền đạt ngoại ngữ như trật tự từ, thành phần câu (A-V)…
11.2. Sự khác nhau cần yếu:
11.2.1. Đây là trường hợp đáng lưu ý nhất. Vì sự khác nhau cần yếu luôn là “cha đẻ” của hiện tượng giao thoa ngôn ngữ.
11.2.2. Ví dụ: Ở bình diện ngữ âm-âm vị học, có sự khác nhau khá rõ giữa các ngôn ngữ Slavơ biến hình (Nga, Sec, Bun..) và tiếng Việt: các từ của tiếng Việt được khu biệt với nhau bằng các thanh điệu trong khi các ngôn ngữ Slavơ là đơn vị từ, hoặc cùng lắm phân biệt bằng ngôn điệu-trọng âm. Chính điều này khiến cho người Nga, Sec, Bun… khi học tiếng Việt thường mắc nhiều lỗi phát âm thanh điệu. Ở bình diện ngữ pháp, các danh từ tiếng Việt được phân loại và phạm trù hóa theo những từ chỉ loại. Trong khi các danh từ của tiếng Nga, Tiệp, Bun không có hiện tượng này. Ở bình diện ngữ pháp, các danh từ tiếng Việt được phân loại và phạm trù hóa theo những từ chỉ loại. Trong khi các danh từ tiếng Nga, Sec, Bun..không có hiện tượng này. Đây là hiện tượng cần lưu ý trong đối chiếu ngữ pháp.
12. Trong phân tích đối chiếu ngôn ngữ, các hiện tượng ngôn ngữ càng giống nhau thì càng có nhiều tương đồng về cấu trúc và hoạt động của ngôn ngữ được đối chiếu.
12.1. Nghiên cứu đối chiếu ngữ pháp trong văn bản khoa học giải quyết các quan hệ tương đồng và không tương đồng về cấu trúc và hoạt động của ngôn ngữ khoa học.
12.1.1. Vai trò của chiếu ngôn ngữ học?
13. Trong nhiều TH, các cứ liệu của ngôn ngữ học đối chiếu cho phép kiểm chứng, bổ sung, làm sáng tỏ hơn những đặc điểm của loại hình học.
13.1. Ví dụ: nghiên cứu loại hình âm tiết của TV trong đối chiếu với ngôn ngữ Châu Âu, dù mục đích phải là phân loại loại hình học nhưng vẫn phải so sánh TV với ngôn ngữ Châu Âu để nghiên cứu và đưa ra kết luận.
14. Ví dụ: từ loại tiếng Việt và tiếng Anh có sự không tương đồng về số lượng và loại hình
15. khả năng và hình thức ứng dụng hiểu biết về những điểm giống nhau và khác nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ vào quá trình dạy học.
16. 1. Đối với loại ngôn ngữ học đại cương
16.1. Nhờ kết quả của ngôn ngữ học đối chiếu, ngôn ngữ học đại cương trong nhiều trường hợp có thể điều chỉnh, bổ sung và kiểm chứng các khái niệm, phạm trù...
16.1.1. Ví dụ: Phạm trù loại trong lịch sử nghiên cứu của ngôn ngữ học dodoiss chiếu cho rằng phạm trù này đồng nhất với phạm trù logic ví như danh từ đồng nhất với phạm trù sự vật, dộng từ đồng nhất với phạm trù hành động...
17. Sự khác nhau này có tính hệ thống, khái quát (thanh điệu trong tiếng Việt, cách trong tiếng Nga v.v.). Nếu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh thì sẽ tìm thấy nhiều điểm giống nhau hơn trong ngôn ngữ (cùng là các ngôn ngữ phân tích tính, trật tự câu rõ ràng v.v.)
18. Trong trường hợp đối chiếu các ngôn ngữ rất khác nhau về loại hình thì sẽ tìm thấy nhiều điểm khác nhau về cấu trúc và hoạt động của ngôn ngữ.
19. Trong các ngôn ngữ khi đối chiếu luôn tồn tại sự không tương đồng về ngữ pháp, ngữ nghĩa hoặc tuyến dẫn xuất nghĩa phái sinh.
20. 5. Đối với dạy học ngoại ngữ
20.1. có tác dụng giúp người dạy và học dễ dàng hơn trong việc định hướng giáo trình, giáo án
20.2. có 2 loại lỗi thường gặp:
20.2.1. Lỗi nội ngôn (intralingual error): do chưa nắm vững cấu trúc hay từ vựng của ngoại ngữ.
21. là xác lập hệ thống các phổ niệm ngôn ngữ và xây dựng một bộ máy các khái niệm, phạm trù làm công cụ nghiên cứu các ngôn ngữ cụ thể.
22. 2. Đối với ngôn ngữ học mô tả
22.1. Là nghiên cứu cấu trúc hệ tống của ngôn ngữ ( ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp). Ngôn ngữ học đối chiếu có tác dụng nhất định đối với ngôn ngữ học mô tả:
22.1.1. Cung cấp cứ liệu cần thiết cho ngôn ngữ học mô tả
22.1.2. Kiểm định xem sự mô tả có chính xác hay không.
23. Ví dụ: những cứ liệu đối chếu cho thấy trong các ngôn ngữ đơn lập, nhiều ngôn ngữ có thanh điệu nên khi ta được nghe một ngôn ngữ nào đó mới lạ, ta có thể pháp đoán ngôn ngữ đó có thanh điệu hay không?
24. các phương pháp, thủ pháp để chuyển đơn vị ngôn ngữ này thành dạng thức tương đương.
25. khi đối chiếu tiếng Việt với tiếng Hán hoặc với tiếng Thái thì mức độ giống nhau nhiều hơn là đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Nga hoặc tiếng Bun.
26. 1. Hai trong số những nhiệm vụ quan trọng của ngôn ngữ học đại cương
27. 3. Mục đích cụ thể của nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ trực tiếp quan hệ với loại hình học ngôn ngữ
27.1. Lỗi giao thoa - lỗi liên ngôn ( interlingual error): người học ngoại ngữ đối chiếu với tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ, và áp dụng vào ngôn ngữ thứ 2 tạo ra nhiều lỗi liên ngôn.
27.2. 3. Đối với loại hình học
27.2.1. là so sánh đối chiếu ngôn ngữ để phân loại về mặt loại hình còn ngôn ngữ học đối chiếu không có nhiệm vụ như vậy
27.2.2. hiểu biết về mối quan hệ giữa tương đồng và dị biệt giữa các ngôn ngữ
27.3. 4, Đối với dịch thuật
27.3.1. cung cấp những cơ sở dữ liệu về đối chiếu
28. 4. Vai trò của ngôn ngữ đối chiếu:
28.1. Ví dụ:
29. 7. Những ứng dụng của ngôn ngữ học đối chiếu trong quá trình giảng dạy.
29.1. Hướng ứng dụng này xuất phát từ giả định rằng nghiên cứu đối chiếu có thể giúp xác định chính xác những thuận lợi và khó khăn mà những người học ngoại ngữ gặp phải bằng cách phát hiện những điểm tương đồng, khác biệt so với tiếng mẹ đẻ của người học mà dự đoán được những lỗi có thể mắc phải để tìm cách phòng tránh và khắc phục..
29.1.1. Nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học ngoại ngữ là một trong những động cơ mạnh mẽ thúc đẩy sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ học đối chiếu.
29.2. Vấn đề nêu trên có nhiều ý kiến trái ngược. Do vậy trong một thời gian dài khoảng từ thập niên 60 đến cuối thế kỷ XX, nhiều giáo trình, chuyên luận, bài nghiên cứu dành phần đáng kể phân tích kỹ lưỡng vấn đề này.
29.3. Tất cả các phân tích đó xoay quanh những nội dung sau:
29.3.1. mối quan hệ giữa sự giống nhau và khác nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ với những thuận lợi và khó khăn đối với việc học ngoại ngữ.
29.3.2. ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đối với quá trình học ngoại ngữ
29.3.3. lỗi do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong tương quan với những lỗi khác trong quá trình học tiếng