Hình thức của pháp luật

Comienza Ya. Es Gratis
ó regístrate con tu dirección de correo electrónico
Hình thức của pháp luật por Mind Map: Hình thức của pháp luật

1. văn bản quy phạm pháp luật

1.1. Khái niệm

1.1.1. Là hình thức pháp luật tiến bộ nhất, là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong đó quy định những quy tắc xử sự chung (quy phạm đối với mọi người) được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội.

1.1.2. Có nhiều loại văn bản pháp luật. Ở mỗi nước, trong những điều kiện cụ thể có những quy định riêng về tên gọi và hiệu lực pháp lý của các loại văn bản pháp luật. Nhưng nhìn chung, các văn bản pháp luật đều được ban hành theo một trình tự thủ tục nhất định và chứa đựng những quy định cụ thể

1.2. Hình thức

1.2.1. là cách thức thể hiện ý chí của nhà nước hay cách thức mà nhà nước sử dụng để chuyển ý chí của nó thành pháp luật.

1.3. Đặc điểm

1.3.1. – Là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành.

1.3.2. – Là văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc

1.3.3. – Là văn bản được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội đối với những trường hợp khi có những sự kiện pháp lý xảy ra. Sự thực hiện văn bản không làm chấm dứt hiệu lực của nó

1.3.4. – Tên gọi, nội dung, trình tự ban hành được quy định cụ thể trong luật.

1.3.5. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là sự điều chỉnh có phạm vi (giới hạn) nhất định về thời gian, không gian và đối tượng điều chỉnh.

1.4. Ví dụ

1.4.1. Các quy phạm pháp luật hành chính trong Hiến pháp năm 2013 hay trong Luật Thanh tra năm 2010… các quy phạm này chỉ hết hiệu lực khi bị bãi bỏ, thay thế. Các quy phạm này có số lượng rất lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh lâu dài và ổn định các quan hệ xã hội phát sinh trong phương nhất định. Các quy phạm này chủ yếu do các cơ quan Nhà nước ở địa phương ban hành để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ quản lý Nhà nước

2. So sánh

2.1. Giống nhau

2.1.1. – Đều là quy tắc xử sự chung;

2.1.2. – Pháp luật và tập quán là những khuôn mẫu, chuẩn mực hướng dẫn cách xử sự cho con người khi tham gia vào quan hệ xã hội nhất định;

2.1.3. – Tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi con người;

2.1.4. – Không phải đặt ra cho một chủ thể nhất định mà cho các chủ thể tham gia vào quan hệ xã hội;

2.1.5. – Được thực hiện nhiều lần trong cuộc sống thực tế.

2.1.6. – Pháp luật và tập quán đều tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội

2.2. Khác nhau

2.2.1. Đây là hình thức pháp luật xuất hiện sớm nhất và được sử dụng nhiều trong các nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến. Trong nhà nước tư sản, hình thức này vẫn được sử dụng nhiều, nhất là ở các nước có chế độ quân chủ.

2.2.2. hình thức này dễ tạo ra sự tùy tiện, không phù hợp với nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phải tôn trọng nguyên tắc tối cao của luật và phải phân định rõ chức năng, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật.

2.2.3. Pháp luật tư sản đã có nhiều hình thức văn bản phong phú và được xây dựng với kỹ thuật cao. Đặc biệt ở giai đoạn đầu, sau khi cách mạng tư sản thành công, nguyên tắc pháp chế được đề cao đã làm cho pháp luật tư sản có hệ thống văn bản tương đối thống nhất dựa trên cơ sở của luật

3. Tập quán pháp

3.1. Khái niệm

3.1.1. Là tập quán được pháp luật thừa nhận có giá trị pháp lý, trở thành những quy tắc xử sự chung và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Đây được xem như một nguồn bổ trợ, nhất là khi nhiều quan hệ xã hội chưa được điều chỉnh bởi văn bản pháp luật.

3.2. Đặc điểm

3.2.1. Tập quán pháp bắt nguồn từ những tập tục đã lưu truyền trong xã hội được hình thành một cách tự phát

3.2.2. mang tính bảo thủ cao, ít biến đổi

3.2.3. Tập quán pháp mang tính cưỡng chế.

3.2.4. Tập quán pháp là thói quen hình thành từ đời sống hay từ truyền thống văn hóa xã hội trong một thời gian dài.

3.3. Thứ tự ưu tiên và điều kiện để áp dụng tập quán pháp

3.3.1. – Giữa các bên không có thỏa thuận

3.3.2. – Không có pháp luật điều chỉnh trực tiếp

3.3.3. – Có tập quán áp dụng

3.3.4. – Tập quán không trái với với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

3.4. Ví dụ

3.4.1. - Trong việc xác định quyền sở hữu, quyền định đoạt tài sản

3.4.2. - Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và thừa kế

3.4.3. - Trong tập quán quốc tế

4. Tiền lệ pháp

4.1. Khái niệm

4.1.1. Là hình thức nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ quan hành chính hoặc xét xử giải quyết những vụ việc cụ thể để áp dụng đối với các vụ việc tương tự.

4.2. Đặc điểm

4.2.1. Tiền lệ pháp hình thành không phải do hoạt động của cơ quan lập pháp mà xuất hiện từ hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp. Vì vậy, hình thức này dễ tạo ra sự tùy tiện, không phù hợp với nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phải tôn trọng nguyên tắc tối cao của luật và phải phân định rõ chức năng, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật.

4.2.2. Tiền lệ pháp (án lệ) phải xuất phát từ những tranh chấp giữa các bên trong vụ án.

4.2.3. Tiền lệ pháp (án lệ) phải được tạo ra bởi Tòa án có thẩm quyền bởi không phải Tòa án nào cũng có đủ điều kiện và khả năng để tạo ra án lệ.

4.2.4. Tiền lệ pháp (án lệ) phải được công bố và hệ thống hóa

4.3. Ví dụ

4.3.1. Bộ luật Dân sự (BLDS) nước ta quy định nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người thân của người có tính mạng bị xâm phạm là cho đến khi chết nếu người được hưởng cấp dưỡng là người đã thành niên và cho đến khi đủ 18 tuổi nếu người được hưởng cấp dưỡng là người chưa thành niên hay đã thành thai. Tuy nhiên, BLDS lại không cho biết nghĩa vụ này bắt đầu vào thời điểm nào nên các tòa rất lúng túng. Sau đó, một quyết định giám đốc thẩm của TAND Tối cao phân tích: Theo tinh thần quy định tại Điều 616 BLDS

4.3.2. Mỗi tòa án bị buộc phải tuân thủ theo các quyết định của tòa cấp cao hơn trong cùng hệ thống hoặc của chính tòa đã tạo ra tiền lệ. Ví dụ: Ở nước Anh, Tòa sơ cấp – Tòa án địa phương (county court) phải tuân theo án lệ của Tòa cấp cao, Tòa hoàng gia, Tòa phúc thẩm và Tòa tối thượng (Thượng Nghị viện). Ở các nhà nước liên bang như Mỹ, Úc, các tòa cấp dưới của các tiểu bang khi xét xử chỉ buộc phải tuân theo những phán quyết đối với những bản án của những vụ án tương tự của các tòa cấp trên thuộc Tiểu bang mình