Khái quát chung

Jetzt loslegen. Gratis!
oder registrieren mit Ihrer E-Mail-Adresse
Khái quát chung von Mind Map: Khái quát chung

1. Các khái niệm

1.1. Đo lường: Đo lường là việc xác định độ lớn của một vật hay hiện tượng thông qua một thước đo hay chuẩn mực.

1.2. Trắc nghiệm: Trắc nghiệm là một cách đo lường theo một phương pháp và công cụ xác định nhằm thu thập thông tin và chuyển hoá chúng thành điểm số để lượng hoá cái cần đo.

1.3. Kiểm tra: Kiểm tra là quá trình thu thập thông tin về đối tượng nhằm làm rõ các đặc trưng của đối tượng cần đo lường, đánh giá.

1.4. Đánh giá: Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập, tổng hợp, phân tích, xử lí và diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá, qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết về đối tượng.

1.5. Mối quan hệ: giữa đo lường, kiểm tra, đánh giá có mối quan hệ gắn kết với nhau. Đánh giá phải dựa trên cơ sở kiểm tra và đo lường; ngược lại, kiểm tra và đo lường là để phục vụ cho việc đánh giá. Nói cách khác, nếu coi đánh giá là một quá trình và kiểm tra thì đo lường là một khâu của quá trình đó, bởi vì kiểm tra là để đánh giá, đánh giá dựa trên cơ sở của kiểm tra nên người ta thường sử dụng cụm từ ghép “kiểm tra – đánh giá”, “kiểm tra đánh giá”, “kiểm tra, đánh giá”.

2. Các bước cơ bản

2.1. B1: Xác định mục đích đánh giá

2.2. B2: Xác định các mục tiêu giáo dục cần đạt được

2.3. B3: Xác định các phương pháp thu thập bằng chứng

2.4. B4: Xây dựng hoặc lựa chọn (nếu có sẵn) công cụ đánh giá

2.5. B5: Thu thập và xử lí thông tin đánh giá

2.6. B6: Kết luận và đưa ra những quyết định

3. Các nguyên tắc

3.1. Đảm bảo

3.1.1. Tính khách quan

3.1.1.1. phản ánh được chính xác kết quả học tập như nó tồn tại

3.1.2. Tính công bằng

3.1.3. Tính toàn diện

3.1.4. Thường xuyên, có hệ thống

3.1.5. Tính hiệu quả

3.1.6. Tính phát triển

3.1.7. Đánh giá trong bối cảnh thực tiễn

3.1.8. Phù hợp với đặc thù môn học

4. Chức năng

4.1. Chẩn đoán các vấn đề của học sinh: giáo viên phát hiện sớm các khó khăn trong học tập của lớp học và số ít học sinh có vấn đề về nhận thức hoặc hành vi

4.2. Xác nhận kết quả học tập của học sinh: Đánh giá cung cấp những số liệu để xác định mức độ mà người học đạt được các mục tiêu học tập, làm căn cứ cho những quyết định phù hợp + giúp xếp loại học sinh theo mục đích nào đó

4.3. Hỗ trợ hoạt động học cho học sinh: cung cấp các thông tin ngược một cách kịp thời về việc học tập của người học, giúp người học điều chỉnh cách học cho phù hợp. xác định được những thiếu sót về nhận thức, kiến thức, kĩ năng, năng lực, phẩm chất ở người học để có căn cứ giúp đỡ họ khắc phục

4.4. Điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên: giáo viên dự báo khả năng của học sinh có thể đạt được trong quá trình học tập, đồng thời xác định những điểm mạnh và điểm yếu của học sinh trong học tập; làm cơ sở cho việc bồi dưỡng năng khiếu; giúp cho giáo viên lựa chọn tiếp cận, phương pháp giáo dục phù hợp với lớp học sinh và từng học sinh (giáo dục phân hóa); đồng thời giúp học sinh lựa chọn hình thức, phương pháp và tài liệu học tập phù hợp.

5. Vai trò

5.1. Thành tố không tách rời của dạy học: Thông qua kiểm tra, đánh giá, giáo viên thu được những thông tin từ học sinh, phát hiện điểm được, và chưa được ở kết quả học tập hiện thời của học sinh và những nguyên nhân cơ bản dẫn tới thực trạng kết quả đó.

5.2. Công cụ hành nghề quan trọng của giáo viên: Kết quả kiểm tra, đánh giá thu được trên cơ sở tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin có ý nghĩa rất quan trọng để đi đến những dự báo về năng lực học tập, nhận định về điểm mạnh, điểm yếu của học sinh, quyết định đánh giá/định giá khách quan, điều chỉnh kịp thời nội dung, phương pháp giáo dục

5.3. Bộ phận quan trọng của quản lí chất lượng dạy học: Các thông tin khai thác được từ kết quả kiểm tra, đánh giá sẽ rất hữu ích cho các nhà quản lí, cho giáo viên, giúp họ giám sát quá trình giáo dục, phát hiện các vấn đề, đưa ra quyết định kịp thời về người học, về người dạy, về chương trình và điều kiện thức hiện chương trình…để đạt được mục tiêu.

6. Các loại hình

6.1. Đánh giá quá trình, đánh giá tổng kết

6.1.1. Đánh giá quá trình: đưa ra những phản hồi kịp thời, chủ yếu bằng nhận xét: chỉ ra cái gì học sinh làm được và chưa làm được. Giáo viên thực hiện đánh giá quá trình ngay trong quá trình dạy học

6.1.2. Đánh giá tổng kết: cung cấp thông tin, chủ yếu bằng điểm số về sự đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cần đạt của học sinh sau khi kết thúc một giai đoạn học tập

6.2. Đánh giá trên lớp, dựa vào nhà trường và trên diện rộng

6.2.1. Đánh giá trên lớp: đánh giá trong phạm vi lớp học, do mỗi giáo viên thực hiện trong mỗi bài học, có thể kết hợp với đánh giá của cha mẹ học sinh -> điều chỉnh hoạt động dạy, học sinh điều chỉnh phương pháp học để nâng cao kết quả học tập

6.2.2. Đánh giá dựa vào nhà trường: đánh giá trong phạm vi một trường học, do ban giám hiệu chủ trì và các tổ nhóm chuyên môn tiến hành đối với tất cả học sinh trong nhà trường. quan tâm đến kết quả bài kiểm tra + sự phát triển phẩm chất học sinh.

6.2.3. Đánh giá trên diện rộng: do các nhà quản lý giáo dục cấp quốc gia hoặc địa phương chủ trì và tiến hành thống nhất với số lượng rất lớn học sinh ở các cấp huyện, tỉnh, quốc gia, quốc tế. Cung cấp những thông tin đáng tin cậy phục vụ công tác quản lí các hoạt động dạy học, xây dựng chính sách giáo dục quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục.

6.3. Đánh giá cá nhân, đánh giá nhóm

6.3.1. Đánh giá cá nhân: được thu thập từ các điều kiện chính thức hoặc từ quan sát của giáo viên khi giao tiếp với cá nhân học sinh. Đặc điểm và cũng là lợi thế của đánh giá cá nhân là một người đánh giá một người; như vậy có nhiều cơ hội để người đánh giá quan sát hoặc phỏng vấn sâu học sinh.

6.3.2. Đánh giá nhóm: giáo viên thu thập thông tin của một nhóm học sinh thông qua quá trình và kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập theo nhóm.

6.4. Tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng

6.4.1. Tự đánh giá: Thông qua tự đánh giá, học sinh thực hiện được quá trình siêu nhận thức

6.4.2. Đánh giá đồng đẳng: Đánh giá đồng đẳng (đánh giá ngang hàng, đánh giá chéo, đánh giá lẫn nhau) là quá trình người học tham gia vào việc đánh giá hoạt động, sản phẩm học tập của những học sinh khác theo các tiêu chí xác định.