1. Đơn vị đo của áp suất
1.1. Trên thế giới tuỳ mỗi vùng mã sử dụng các đơn vị đo áp suất khác nhau. Các đơn vị đo áp suất thường dùng hiện nay như : Pascal ký hiệu Pa, Psi, Bar, mmHg, kg/cm2, atm, Torr… Vậy tại sao lại có nhiều loại đơn vị được dùng như vậy? Đầu tiên là do thời chiến tranh lạnh có hai trường phái là Châu Âu và Mỹ, họ luôn đưa ra các tiêu chuẩn khác nhau để đo lường như : đơn vị đo áp suất, chuẩn kết nối cơ khí, kể cả đo khối lượng, đo độ cao cũng dùng đơn vị khác nhau. Chính vì thế mà ngày nay có rất nhiều loại – tiêu chuẩn đo lường khác nhau làm ảnh hưởng đến việc tìm hiểu và sử dụng các loại thiết bị.
1.2. Các đơn vị chính để đo áp suất của các châu lục: Các nước Châu Âu, có các nền công nghiệp phát triển họ sử dung các đơn vi áp suất chủ yếu là Bar. Ở Châu Mỹ điển hình là USA và Canada họ dùng đơn vị đo áp suất chủ yếu là Psi. Ở Châu Á có Nhật Bản có nền công nghiệp phát triển, họ dùng đơn vị đo áp suất chủ yếu là Pascal ký hiệu Pa.
2. Phân loại
2.1. Có 5 loại áp suất cơ bản được ứng dụng hiện nay bao gồm : áp suất riêng phần, áp suất tuyệt đối, áp suất thẩm thấu, áp suất dư và áp suất tĩnh.
2.1.1. Áp suất riêng phần: Áp suất riêng phần là áp suất của 1 chất khí khi nó là một thành phần trong hỗn hợp khí, nếu giả thiết rằng 1 mình khí đó chiếm toàn bộ thể tích của hỗn hợp. Khái niệm áp suất riêng phần xuất hiện trong định luật Dalton. Theo định luật Dalton thì tổng áp suất của hỗn hợp khí không phản ứng bằng tổng áp các áp suất từng phần của các khí riêng lẻ nếu xét hỗn hợp khí gồm nhiều chất khí không phản ứng với nhau
2.1.1.1. Ví dụ về áp suất riêng phần: Thu giữ khý oxy bằng cách đẩy qua nước vào trong 1 bình dốc ngược, sự hiện diện của hơi nước trong bình phải được xem xét đến lượng khí oxy thu được. Cách điều chỉnh được thực hiện bằng cách dùng định luật Dalton về áp suất riêng phần.
2.1.2. Áp suất tuyệt đối: Áp suất tuyệt đối là tổng áp suất gây ra bởi cả khí quyển và cột chất lỏng tác dụng lên điểm trong lòng chất lỏng, là áp suất tiêu chuẩn so với môi trường chân không 100%. Do đó, nó được tính bằng tổng áp suất tương đối và áp suất khí quyển.
2.1.3. Áp suất thẩm thấu: Áp suất thẩm thấu là áp suất gây nên bởi hiện tượng các phân tử dung môi khuếch tán một chiều qua màng thẩm thấu từ dung môi sang dung dịch ( hoặc từ dung dịch có nồng độ thấp sang dung dịch có nồng độ cao hơn). Áp suất thẩm thấu của 1 dung dịch tỉ lệ thuận với nồng độ cũng như nhiệt độ của dung dịch đó.
2.1.3.1. Ý nghĩa của việc xác định áp suất thẩm thấu trong thực tiễn: có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sinh học vì màng chất của tế bào là các màng thẩm thấu. Nhờ áp suất thẩm thấu mà: Nước được vẫn chuyển từ rễ cây lên ngọn cây. Tránh hiện tượng vỡ hoặc teo hồng cầu khi sử dụng những dung dịch đẳng trương ( có áp suất thẩm thấu bằng áp suất của máu) để đưa vào cơ thể ( Vì dịch trong hồng cầu có áp suất thẩm thấu 7.4-7.5atm ) Xác định được phân tử gam 1 chất
2.1.4. Áp suất dư: Áp suất dư ( hay còn gọi là áp suất tương đối) là áp suất tại một điểm trong chất lỏng và chất khí khi lấy mốc là áp suất khí quyển lân cận xung quanh.
2.1.5. Áp suất tĩnh: Áp suất tĩnh là áp suất thống nhất trong tất cả các hướng, tương ứng với áp suất gây nên khi chất lỏng không chuyển động.
2.1.5.1. Ý nghĩa của áp suất tĩnh: Đo được áp suất tĩnh là bước quan trọng hàng đầu để xác định tải ròng trên bức tường ống, áp suất động , được sử dụng để đo tốc độ dòng nước chảy và tốc độ bay.