1. Đặt vấn đề
1.1. 1.Khó khăn trong việc định nghĩa chức năng văn học
1.1.1. Khái niệm văn học là những văn bản được ghi lại bằng văn tự được chấp nhận rộng rãi ở cả Phương Đông và Phương Tây trong 1 thời gian dài...
1.2. 2.Nhân loại luôn hồ nghi vê sự tồn tại của văn chương.
1.2.1. QUÁ KHỨ
1.2.1.1. Phương Tây: PLato trong ''Cộng Hòa'' cho rằng nhà thơ chỉ có thể gợi vấn đề cảm tính của con người thay vì lý tính. Ông không phủ nhận tài năng những cho rằng thơ ca không thể giúp lý tính con người phát triển
1.2.1.2. Phương Đông: Lưu Quang Vũ:''Thơ hay đời loạn lạc chẳng đâu dùng'' =>Mỗi khi thế giới gặp phải chấn thương hay biến cố, người ta lại đặt nghi vấn về tính cấp thiết về sự tồn tại của văn chương.
1.2.2. HIỆN TẠI
1.2.2.1. Robbot-Trí tuệ thôn minh nhân tạo AI đe dọa việc làm của con người. Trong nhiều lĩnh vực, con người không thể sánh bằng AI: viết luận, lắp ráp, tiểu phẫu... Dấy lên nỗi sợ hãi bị thay thế, cảm giác vô dụng.
1.2.2.2. Sự xuất hiện của BIG DATA : Những nhà mạng đang tính cực thu thập thông tin người dùng và hiểu ta hơn mỗi ngày >< Nhà văn dù am hiểu cuộc sống, con người cũng không thể bằng máy móc => Cuộc chiến không có mặt của nhà văn.
1.2.2.3. Sự phát triển của y sinh: Quan niệm phật giáo ''Sinh lão bệnh tử'' và phẫu thuật thâm mỹ đang cản trở quá trinh ấy-> mất cái riêng Công nghệ nhân bản: ''Mãi đừng xa tôi''-Kazuo
1.2.2.4. Đại dich Covid 19 với sự phát triển của mạng xã hội. Trong tình cảnh khắc nghiệt văn chương trở nên cô độc và bất lực khi không là thực phẩm,thuốc men-không thiết thực Tác phẩm ''Nhật lý Vũ Hán''-Phương Phương bị chỉ trích.
1.2.2.5. Báo chí: Báo chí, điện ảnh, truyền hình đang biến văn chương thành kẻ ''chiếu dưới'' trong việc giúp con người hiểu biết hơn về thế giới 1 cách sinh động hơn.
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Dùng lý nói lý
2.1.1. HEGHEN: ''Cái gì tồn tại thì cái đấy có lý'': Nếu VC không có ích thì tại sao còn tồn tại đến tận bây giờ? Con người luôn cần VC ngay cả khi tận thế
2.2. Nhận thức về thế giới
2.2.1. 1.Về Thế Giới
2.2.1.1. Con người không bao giờ bằng lòng về thế giới vật chất.
2.2.1.2. Khác triết học, đạo đức học, VC đưa ta khoảng trống, vẻ đẹp để con người tự giải nghĩa và tạo ra mệnh đề bên trong mình
2.2.1.3. VD: Vầng trăng- Nhờ VH trăng không chỉ là 1 vệ tinh, khối đất trơ trọi mà còn là mối tình, câu chuyện, kí ức...
2.2.2. 2.Về Chính Mình
2.2.2.1. Chỉ nghệ thuật mới nhìn thấy nỗi đau vô hình, ám ảnh ( Kiên- ''Nỗi buồn chiến tranh''; Samsa -''Hóa thân''...)
2.2.2.2. Nâng đỡ cho những kẻ bên kề xã hội ( Chí Phèo, AQ,..). VH có thể bất lực trước cái ác những nó không thờ ơ, luôn khao khát được thấu hiểu ngay cả ''con quỷ'' đến ''kẻ ăn thịt người''...
2.2.2.3. Chỉ VH mới quan tâm đến những cá nhân, người nhỏ bé. Sử học chỉ có chỗ cho vĩ nhân( ''Đỏ lèn''-Nguyễn Duy)
2.2.2.4. Giá trị nhận thức gắn liền với giá trị đạo đức: VC giúp hỗ trợ quá trình nghi vấn chính mình, tự đưa ra khủng hoảng rằng ta là ai, đi tìm 1 đời có nghĩa.
2.3. VH đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần con người
2.3.1. Con người là 1 sinh vật có chiều kích tinh thần. BV NT sẽ bồi đắp tình cảm, phát triền cảm tính của con người. (Nếu chỉ có lý tính con người sẽ sớm bị thay thế bởi máy móc
2.3.2. VC tạo ra 1 diễn ngôn khác với diễn ngôn của công nghê: Có sự dằn vặt., ám ảnh, bâng khuâng,...
2.4. Tiếng nói của sự thật
2.4.1. Vc bao dung cho tiếng nối khác biệt: Trong nhà tù, trại tập trung,tâm dịch-> thơ ra đời là sự truyền gửi sinh động
2.4.2. Nếu không tồn tại tiếng nói khác biệt - tiếng nói dũng cảmthì đó mới là kiếp nạn lớn nhất: Chính trị, các thế lực sẽ che giấu đi tất cả điều đó
2.5. VH lưu giữ kí ức chân thật của nhân loại
2.5.1. Ký ức của cta bị chỉnh đốn, thay thế, xóa bỏ-> VH là mình chứng chân thực cho tất cả điều ấy
2.5.2. VH cho ta 1 tấm lòng chân thật, dấy lên câu hỏi khi gặp dối trá, khiến ta không ngừng nghi vấn về thế giới, níu giữ chân lý, phép tắc, tiêu chuẩn để ta nhìn vào mà sống tốt
2.6. Chức năng giáo dục
2.6.1. VC không chấp nhận sự bó buộc
2.6.2. Khơi dậy, xáo động, thức tỉnh giưc con người ở trang thái bbấtmaxn và hoài nghi về bản thân. Ngăn xnguwfa sự suy nhược tinh thần, suy thoái trí tuệ và đạo đức.
2.6.3. Nhà văn chân chính là những chuyên gia bất mãn, kẻ quấy rối ý thức,vô thức của xã hội, không chịu khuất phục