TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC

Começar. É Gratuito
ou inscrever-se com seu endereço de e-mail
TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC por Mind Map: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC

1. Chi phí cơ hội

1.1. Là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện sự lựa chọn đó

2. Ứng dụng đối với cuộc sống

2.1. Chương 1 của KTVM giới thiệu 10 nguyên lý cơ bản của kinh tế học, bao gồm cách thức các cá nhân và xã hội đưa ra quyết định trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, cách thức các thị trường hoạt động và tác động đến nền kinh tế, và sự khác biệt giữa kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô. Những nguyên lý này có nhiều ứng dụng đối với cuộc sống kinh tế vi mô,

2.1.1. Nguyên lý 1: Con người phải đối mặt với những thế lựa chọn. Điều này có nghĩa là con người phải chịu sự hy sinh khi chọn một lựa chọn thay vì một lựa chọn khác. Sự hy sinh này được gọi là chi phí cơ hội, tức là giá trị của những gì phải từ bỏ để có được một thứ gì đó. Ví dụ, nếu bạn quyết định dành thời gian để học bài thì chi phí cơ hội của bạn là những hoạt động giải trí mà bạn bỏ lỡ. Hay nếu bạn quyết định mua một chiếc áo mới thì chi phí cơ hội của bạn là những món hàng khác mà bạn có thể mua với số tiền đó.

2.2. Nguyên lý thứ hai: Chi phí của một thứ gì đó là những gì bạn từ bỏ để có được nó. Điều này liên quan đến nguyên lý thứ nhất, nhưng nhấn mạnh vào việc đánh giá chi phí và lợi ích của một quyết định. Khi bạn đưa ra một quyết định, bạn nên so sánh lợi ích biên (tức là lợi ích thêm được từ một đơn vị thêm) và chi phí biên (tức là chi phí thêm phát sinh từ một đơn vị thêm) của quyết định đó. Nếu lợi ích biên lớn hơn chi phí biên, bạn nên thực hiện quyết định đó. Ví dụ, nếu bạn đang cân nhắc xem có nên học thêm một giờ nữa hay không, bạn nên so sánh lợi ích biên của việc học thêm (tức là điểm số cao hơn, kiến thức nhiều hơn) và chi phí biên của việc học thêm (tức là mệt mỏi, buồn chán, thiếu thời gian cho những việc khác).

2.3. Nguyên lý thứ ba: Những người hợp lý nghĩ ở biên. Điều này có nghĩa là những người hợp lý không quan tâm đến tổng chi phí hay tổng lợi ích của một hành động, mà chỉ quan tâm đến chi phí hay lợi ích thêm phát sinh từ một đơn vị thêm của hành động đó. Những người hợp lý sẽ thực hiện một hành động khi và chỉ khi lợi ích biên của hành động đó lớn hơn hoặc bằng chi phí biên. Ví dụ, nếu bạn đang cân nhắc xem có nên xem một bộ phim hay không, bạn không nên quan tâm đến chi phí của vé xem phim hay lợi ích của việc xem phim, mà chỉ nên quan tâm đến chi phí và lợi ích thêm phát sinh từ việc xem phim so với việc không xem phim.

2.4. Nguyên lý thứ tư: Những người phản ứng với những kích thích. Điều này có nghĩa là hành vi của con người thay đổi khi chi phí hay lợi ích của một hành động thay đổi. Khi chi phí của một hành động tăng lên, con người sẽ có xu hướng làm ít hơn hành động đó, và ngược lại. Khi lợi ích của một hành động tăng lên, con người sẽ có xu hướng làm nhiều hơn hành động đó, và ngược lại. Ví dụ, khi giá xăng tăng lên, con người sẽ có xu hướng đi lại ít hơn bằng ô tô, và ngược lại. Hay khi lương tăng lên, con người sẽ có xu hướng làm việc nhiều hơn, và ngược lạ

2.5. Nguyên lý thứ năm: Thương mại có thể làm cho mọi người tốt hơn. Điều này có nghĩa là thương mại cho phép con người chuyên môn hóa vào những công việc mà họ làm tốt nhất, và trao đổi những sản

2.6. Nguyên lý thứ sáu: Thị trường thường là một cách tốt để tổ chức hoạt động kinh tế. Điều này có nghĩa là thị trường, nơi mà các người mua và người bán gặp nhau và trao đổi hàng hóa và dịch vụ, thường là một cơ chế hiệu quả để phân bổ nguồn lực khan hiếm. Thị trường được điều chỉnh bởi giá cả, mà phản ánh giá trị của một mặt hàng đối với xã hội. Giá cả cũng có tác dụng như một kích thích để khuyến khích các nhà sản xuất sản xuất nhiều hơn những mặt hàng có giá trị cao, và khuyến khích các người tiêu dùng tiêu thụ ít hơn những mặt hàng có chi phí cao.

2.7. Nguyên lý thứ bảy: Chính phủ có thể cải thiện kết quả thị trường. Điều này có nghĩa là có những trường hợp mà thị trường không hoạt động hiệu quả, và cần sự can thiệp của chính phủ để khắc phục những thất bại thị trường. Những thất bại thị trường có thể xuất hiện do sự thiếu cạnh tranh, sự có mặt của các bên thứ ba, hay sự thiếu thông tin. Chính phủ có thể cải thiện kết quả thị trường bằng cách đưa ra các luật lệ, thuế, trợ cấp, hoặc cung cấp các dịch vụ công

2.8. Nguyên lý thứ tám: Một quốc gia có thể tận dụng được một số lợi thế khi tham gia vào thương mại quốc tế. Điều này có nghĩa là thương mại quốc tế cho phép một quốc gia nhập khẩu những mặt hàng mà nó không sản xuất được hoặc sản xuất kém hiệu quả, và xuất khẩu những mặt hàng mà nó sản xuất được với chi phí thấp hơn các quốc gia khác. Thương mại quốc tế cũng mở rộng thị trường cho các nhà sản xuất và người tiêu dùng, tăng cường sự cạnh tranh và sự đổi mới, và thúc đẩy sự hợp tác và hòa bình giữa các quốc gia.

2.9. Nguyên lý thứ chín: Chi phí của cuộc sống là tiền lạm phát. Điều này có nghĩa là tiền lạm phát, tức là tốc độ tăng trưởng của mức giá chung của một quốc gia, làm giảm giá trị của tiền tệ. Khi tiền lạm phát cao, mức giá của các mặt hàng và dịch vụ tăng nhanh, và người tiêu dùng phải trả nhiều tiền hơn cho cùng một lượng hàng hóa và dịch vụ. Tiền lạm phát cũng làm ảnh hưởng đến sự phân bổ nguồn lực, sự phân phối thu nhập, và sự ổn định kinh tế.

2.10. Nguyên lý thứ mười: Xã hội phải chịu một chi phí ngắn hạn để giảm tiền lạm phát. Điều này có nghĩa là để giảm tiền lạm phát, chính phủ phải áp dụng các chính sách tiền tệ hoặc tài khóa nhằm giảm nhu cầu tổng hợp của xã hội. Tuy nhiên, việc làm này sẽ gây ra một chi phí ngắn hạn là sự giảm sản lượng và tăng thất nghiệp. Đây là một sự đánh đổi giữa tiền lạm phát và thất nghiệp, được gọi là đường cong Phillips.

3. Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)

3.1. Là đường biểu diễn những kết hợp tối đa số lượng các sản phẩm mà nền KT có thể sx đc khi sd toàn bồ nguồn lực hiện có t.ứng với 1 trình độ CN nhất định

4. Hệ thống kinh tế

4.1. Nền kinh tế thị trường

4.1.1. giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? đều thông qua tương tác của quan hệ cung-cầu trên thị trường.

4.1.2. Ưu điểm

4.1.2.1. Nhà sản xuất luôn nỗ lực tối ưu việc phân phối và sử dụng hiệu quả nguồn lực dưới sức ép tối đa hóa lợi nhuận.

4.1.2.2. Người tiêu dùng được tự do lựa chọn.

4.1.3. Nhược điểm

4.1.3.1. Do đặt lợi nhuận lên trên hết nên sẽ dẫn đến phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội, ô nhiễm môi trường,…

4.1.3.2. Cầu về dịch vụ an ninh quốc phòng không được đầu tư thỏa đáng.

4.1.3.3. Hàng hóa công cộng cần thiết không được đầu tư (do lợi nhuận thấp,…)

4.2. Hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung

4.2.1. Ba vấn đề kinh tế cơ bản đều do Chính phủ quyết định và thực hiện.

4.2.2. Ưu điểm

4.2.2.1. Việc quản lý thống nhất, tập trung, hạn chế phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội, giải quyết được nhu cầu công cộng của xã hội.

4.2.3. Nhược điểm

4.2.3.1. Sinh ra thói quan liêu bao cấp

4.2.3.2. Không kích thích sản xuất phát triển

4.2.3.3. Gặp trục trặc trong khâu phân phối

4.2.3.4. Sử dụng nguồn lực kém hiệu quả

4.2.3.5. Gần như triệt tiêu tính năng động, sáng tạo của DN

4.3. Hệ thống kinh tế hỗn hợp

4.3.1. Khái niệm

4.3.1.1. Là nền kinh tế mà cả quy luật thị trường và chính sách của Chính phủ đều có tác động đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế.

4.3.1.2. Thị trường là yếu tố chính dẫn dắt các quyết định của doanh nghiệp và người tiêu dung

4.3.1.3. Chính phủ tham gia tích cực và đóng vai trò quan trọng đối với việc điều chỉnh hoạt động của thị trường.

4.3.2. Ưu điểm

4.3.2.1. Phân phối hàng hóa và dịch vụ đến những nơi cần thiết nhất và cho phép giá cả đo lường cung và cầu.

4.3.2.2. Thưởng cho những nhà sản xuất hiệu quả nhất với lợi nhuận cao nhất, giúp khách hàng nhận được giá trị cao nhất khi tiêu dùng.

4.3.2.3. Khuyến khích sự đổi mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách sáng tạo hơn, rẻ hơn hoặc hiệu quả hơn

4.3.2.4. Tự động phân bổ vốn cho các nhà sản xuất sáng tạo và hiệu quả nhất.

4.3.2.5. Việc mở rộng vai trò của Chính phủ cũng đảm bảo rằng các thành viên kém cạnh tranh hơn được quan tâm, giúp khắc phục một trong những nhược điểm của nền kinh tế thị trường.

4.3.3. Nhược điểm

4.3.3.1. Mối quan hệ giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhóm lợi ích kinh tế và thị trường có thể tạo ra các định hướng khiến cho nền kinh tế hỗn hợp không còn thuần túy cho lợi ích chung.

4.3.3.2. Hạn chế này có thể cho phép các nhóm có lợi ích chiếm đoạt các nguồn lực khỏi các hoạt động có năng suất tiềm năng và tìm cách thay đổi chính sách kinh tế theo hướng có lợi cho họ.

5. Kinh tế học

5.1. Khái niệm

5.1.1. là môn KHXH, nghiên cứu làm việc lựa chọn hợp lý các nguồn lực khan hiếm để thỏa mãn nhu cầu vô hạn của con người

5.2. Phân loại

5.2.1. Phạm vi nghiên cứu

5.2.1.1. Vi mô

5.2.1.1.1. Nghiên cứu hành vi kinh tế của các chủ thể tham gia vào nền kinh tế (cá nhân/hộ gia đình, nhà sản xuất, Chính phủ) và cách các chủ thể này tương tác với nhau.

5.2.1.2. Vĩ mô

5.2.1.2.1. Nghiên cứu xu hướng phát triển và phân tích biến động một cách tổng thể, toàn diện về cấu trúc của nền kinh tế và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế.

5.2.2. Cách tiếp cận

5.2.2.1. Thực chứng

5.2.2.1.1. Giải thích hoạt động của nền kinh tế một cách khách quan và khoa học, dự báo về hành vi của các chủ thể phản ứng như thế nào trước những biến động.

5.2.2.1.2. Đưa ra nhận định dựa vào dữ liệu, bằng chứng thực nghiệm.

5.2.2.2. Chuẩn tắc

5.2.2.2.1. Đưa ra luận giải, đề xuất khuyến nghị dựa trên đánh giá theo tiêu chuẩn cá nhân.

5.2.2.2.2. Mang tính chủ quan cao.

6. 3 vấn đề kinh tế

6.1. Sản xuất cái gì?

6.2. Sản xuất cho ai?

6.3. Sản xuất bằng cách nào?

7. Bài học

7.1. Hiểu rõ được đối tường nghiên cứu và phân ngành của kinh tế học. Hiểu được ưu nhược điểm của các nền kinh tế. Vận dụng nguyên lý cơ bản vào phân tích tình huống thực tế và ra quyết định